Các cửa hàng department store (cửa hàng bán buôn cao cấp) từng là những địa điểm mua sắm tấp nập trong những trọng tâm thương nghiệp và Phố Chính trên khắp nước Mỹ. Trong thập kỷ vừa qua, họ phải chịu đựng những đòn giáng mạnh, khi Macy’s đang phải đóng một số cửa hàng và sa thải viên chức, Barneys New York thì đệ đơn phá sản hồi năm ngoái.
Tuy nhiên, không điều gì có thể so sánh bằng cú sốc mà ngành này phải hứng chịu do đại dịch Covid-19. Doanh số bán áo xống và phụ kiện của các department store giảm 1 nửa trong tháng 3 và có thể còn đối diện với một thiên hướng có thể còn bạc hơn tháng 4. Toàn bộ đội ngũ điều hành của Lord & Taylor đã rời công ty trong tháng này, Nordstrom hủy 1 loạt đơn đặt hàng và ngừng trả tiền cho các nhà cung cấp. Trong khi đó, Neiman Marcus, chuỗi department store hào nhoáng nhất nước Mỹ dự kiến sẽ tuyên bố phá sản trong những ngày tới.
Theo Mark A. Cohen, giám đốc nghiên cứu ngành bán lẻ tại Trường kinh dinh thuộc Đại học Columbia, các cửa hàng này vốn đã chịu sự sụp đổ từ từ trong thời rất dài và đích thực không thể vượt qua thời gian này.
Cửa hàng Neiman Marcus tại Hudson Yards (Manhattan).
Ở thời điểm các nhà bán sỉ thường đặt hàng cho các mùa mua sắm quan yếu trong năm, thì những công ty này lại sa thải hàng chục nghìn viên chức tại cửa hàng, ban điều hành, lo lắng trữ tiền mặt và lên kế hoạch sống sót qua khủng hoảng. "Bóng ma" của tình trạng vỡ nợ hàng loạt đang được trao đổi sôi nổi. Dù có xảy ra hay không, thì sự biến động mà đại dịch gây ra sẽ đổi thay vĩnh viễn bức tranh của ngành bán lẻ và mối quan hệ của các thương hiệu với những cửa hàng đối tác.
Theo mỏng tháng 1 của công ty nghiên cứu bất động sản Green Street Advisors, chuỗi cửa hàng department store chiếm khoảng 30% tổng diện tích trọng điểm thương nghiệp tại Mỹ, 10% trong đó là Sears và J.C. Penney. Ngay cả trước đại dịch, công ty này dự định sẽ có khoảng 1 nửa cửa hàng tại các trọng điểm thương nghiệp đóng cửa vào 5 năm tới.
Dù đã nuốm phát triển chiến lược bán hàng trên các vận dụng thương mại điện tử, trang web, thì dịch bệnh đã cho thấy mức độ phụ thuộc của các department store vào doanh số bán hàng vật lý. thưa doanh số bán buôn tháng 3 của Bộ thương mại Mỹ công bố vào tuần trước cho thấy con số này là một "thảm hoạ". Tổng doanh số bán sỉ trong tháng này dự kiến còn tệ hơn, do các cửa hàng hầu hết đều đóng cửa trong tháng 3.
Theo đó, các nhà bán buôn đã bắt đầu thực hiện những biện pháp có phần cực đoan để sống sót. Le Tote – công ty đã mua lại Lord & Taylor, cho biết hôm 2/4 rằng họ sẽ sa thải tức khắc toàn bộ đội ngũ điều hành, gồm cả giám đốc điều hành. Hơn nữa, họ cũng ngừng tính sổ tiền hàng đối với các nhà cung cấp trong ít nhất 90 ngày, bởi chịu sức ép rất lớn từ vị thế thanh khoản.
Cửa hàng mới của Nordstrom tại Manhattan.
Theo Reuters, Macy’s cũng gia hạn thời kì thanh toán hàng hóa và dịch vụ từ 60 ngày lên 120 ngày và thuê các viên chức ngân hàng từ Lazard để tham mưu về vấn đề tài chính. Jeff Gennette – tổng giám đốc của công ty, đang hủy bỏ thanh toán mọi khoản đền bù trong thời gian khủng hoảng. Công ty này còn bị loại khỏi S&P 500 vào tháng trước do mức định giá rớt thảm.
J.C. Penney cũng thuê nhân viên từ Lazard để tư vấn về chọn lựa tái cấu trúc và xác nhận rằng họ đã chẳng thể thanh toán khoản lãi vay hồi tuần trước. Tuy nhiên, không ai trong số các nhà bán lẻ này gặp khó khăn "trực diện" như Neiman Marcus, khi vừa gánh khoản nợ 4,8 tỷ USD và chi phí thuê mặt bằng đắt đỏ tại các khu mua sắm cao cấp nhất nước Mỹ.
Thậm chí ngay cả Nordstrom – một chuỗi cửa hàng được coi là có vị thế mạnh nhất, trong tháng này cũng cho biết họ có thể phải đối mặt với một cảnh huống khó khăn, khi các cửa hàng vật lý phải đóng cửa trong thời gian dài. Erik và Pete Nordstrem – tổng giám đốc và giám đốc thương hiệu, đều không nhận lương căn bản trong ít ra 6 tháng. Chuỗi cửa hàng này đã gây ra cú sốc đối với những nhà cung cấp, khi gửi một loạt email hủy đơn hàng trong những ngày gần đây.
Ở bít tất các chuỗi cửa hàng, mức giá đối với một số hàng hóa được bán qua các trang thương mại điện tử đã giảm 40%. Hơn nữa, lượng đơn hàng trước mùa thu bị hủy đã tăng lên. Một số thương hiệu cho biết các lô hàng thậm chí còn bị từ chối khi vừa giao đến kho. Các công ty bán sỉ cũng gia hạn thời kì chi trả cho các bên cung cấp, khiến họ buộc phải thương thuyết với các nhà sản xuất, công ty marketing và chủ đất.
Hơn nữa, lưu lượng tiền mặt của các department store cũng sụt giảm mạnh. Trong một chú giải công bố hôm 13/4, các nhà phân tách của Cowen ước lượng lượng thanh khoản của Macy’s chỉ đủ để trụ vững trong 4 tháng, Kohl’s là 6 tháng và 7 tháng đối với J.C. Penny. Trong khi đó, nhóm chuyên gia cho rằng Nordstrome có thể sống sót trong 12 tháng khi các cửa hàng đóng cửa.
Theo một vắng của S&P Global Market Intelligence trong tháng này, các department store có nhiều khả năng vỡ nợ hơn bất kỳ ngành nào khác thuộc lĩnh vực tiêu dùng vào năm tới. Họ dự định khả năng nhóm này vỡ nợ có xác suất 42%.
Tham khảo New York Times
0 nhận xét:
Đăng nhận xét