Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2020

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh”

Nữ diễn viên gạo cội Tippi Hedren (hiện 90 tuổi) đã từng chuẩn bị cho việc quay bộ phim “Roar” (Tiếng gầm) bằng cách đưa về nhà hẳn… một con sư tử và cùng chung sống với nó, để chuẩn bị ghi hình “bộ phim hiểm nguy nhất từng được thực hành”.

70 thành viên trong đoàn phim đã bị thương khi thực hành bộ phim nhiều tham vọng này. Bản thân nữ diễn viên Tippi Hedren đã bị thương ở chân vì voi tiến công và bị thương ở đầu vì hổ vồ.

Chồng của nữ diễn viên khi ấy - Noel Marshall, người đã biên kịch, đạo diễn và dự diễn xuất trong phim cũng phải nhập viện và điều trị 3 tuần sau khi bị một con hổ cắn vào tay.

Con gái của nữ diễn viên Hedren - nữ diễn viên Melanie Griffith (khi ấy mới 13 tuổi) - cũng đã trường đoản cú dự án phim sau khi bị sư tử tấn công vào mặt, bị thương nặng ở mắt.

Về sau, nữ diễn viên Tippi Hedren đã san sớt rằng bà rất hối hận vì những ham và tham vọng điện ảnh của bản thân mà gây nên ảnh hưởng tới con gái: “Tôi đã từng tự hỏi rằng liệu Melanie có cảm thấy tôi đã dành quá nhiều sự quan tâm cho những con sư tử và bộ phim tới mức không còn dành nhiều sự quan hoài cho con bé hay không”.

Để chuẩn bị cho bộ phim “Roar”, gia đình nữ diễn viên Tippi Hedren đã đưa sư tử Neil vào trong ngôi nhà của họ ở Hollywood để có thể thực thụ hiểu về loài sư tử. Tippi Hedren từng nói rằng trải nghiệm ấy đã đưa lại một nguồn cảm hứng kéo dài trong suốt cuộc đời bà.

Sư tử Neil đã cùng xuất hiện trong bộ ảnh gia đình Hedren chụp cho tùng san Life (Mỹ) hồi năm 1971. Về sau, khi nhớ lại quyết định cho Neil vào ở trong nhà, Hedren thừa nhận rằng khi đó bà đã quá “ngây thơ và thần thánh”. Giờ nhìn lại những bức ảnh khi gia đình cùng chung sống với một con sư tử, bà Hedren cho biết bà cảm thấy “rùng mình khiếp sợ”.

Trong những năm tháng về sau, bà Hedren đã dành nhiều tâm sức cho một khu bảo tàng nuôi dưỡng những loài động vật hoang dã nằm ở phía bắc Los Angeles, tại đây, bà cho nuôi dưỡng và chăm chút những loài động vật từng tham gia bộ phim “Roar”.

“Roar” khi ấy đã huy động tới khoảng 150 động vật hoang dại gồm sư tử, hổ, báo... để chuẩn bị cho việc quay phim. Khi đó, để truyền bá cho bộ phim “hiểm nhất từng được thực hiện”, đoàn phim thường nói về dự án này rằng: “Không loài động vật nào bị thương trong quá trình thực hiện bộ phim, nhưng 70 nhân viên đoàn phim thì có”.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 1

Tippi Hedren chơi đùa với sư tử Neil khi phóng viên ảnh của tùng san Life tới nhà bà để chụp hình hồi năm 1971. Khi chuẩn bị thực hành bộ phim “Roar”, Hedren đã nghe theo lời khuyên của một người huấn luyện động vật rằng bà nên thử sống cạnh chúng để thực sự hiểu về chúng. Trong cuốn hồi ký của mình, bà viết: “Sư tử Neil là một con sư tử rất thúc, thỉnh thoảng còn rất hí hước nhưng cũng có lúc khá đáng sợ”.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 2

Tippi Hedren và chồng - Noel Marshall khi đó đã bị ám ảnh với việc thực hiện bộ phim “Roar” bất chấp những cảnh báo đến từ nhiều chuyên gia động vật, họ được khuyên rằng không nên mạo hiểm tính mạng của bản thân và những người khác để thực hành bằng được bộ phim này. Dù vậy, vợ chồng Hedren đã không nghe theo.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 3

Sư tử Neil đùa nghịch với con gái của Hedren - nữ diễn viên Melanie Griffith (khi ấy 13 tuổi). Trong những ngày sống với gia đình Hedren, sư tử Neil đã khiến họ hích tìm hiểu, nó rất thích chơi đùa và khi có ai di chuyển nhanh, nó sẽ tưởng rằng mọi người đang bắt đầu một trò chơi, nó sẽ nao nức nhập cuộc tức thì.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 4

Lúc này, cuộc sống của gia đình Hedren xoay quanh “cơn sốt sư tử”, về sau, nghĩ lại thời đoạn này, bà Hedren nhấn mình đã thiếu chín chắn trong hành động.

Ý tưởng thực hiện bộ phim bắt đầu từ Hedren và người chồng của bà khi ấy - Noel Marshall. Bộ phim bắt đầu được lên ý tưởng hồi năm 1969 khi Hedren đang quay phim ở Zimbabwe. Lúc này, Hedren đã trở thành nổi tiếng tại Hollywood sau khi đóng vai chính trong phim “The Birds” của đạo diễn Alfred Hitchcock.

Ở tại Zimbabwe, nữ diễn viên đã có dịp xúc tiếp với những con sư tử và tức thời bị “cuồng sư tử”, “phát sốt với sư tử”.

Ý tưởng thực hiện bộ phim “Roar” đã đến với bà và người chồng lúc bấy giờ sau khi họ tới thăm một khu bảo tàng tự nhiên, họ đã bị choáng ngợp trước đời sống của những bầy đàn sư tử và mong muốn biến những cảnh tượng ngoạn mục mà họ nhìn thấy trở thành một bộ phim.

Ý tưởng đó đã khiến họ bắt tay vào thực hành dự án “Roar” sau khi trở về Hollywood và theo đuổi dự án này trong suốt 11 năm cho tới khi bộ phim được ra mắt công chúng hồi năm 1981, dù vậy, sau hết, đây không phải một dự án thành công.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 5

Về sau, Hedren đã cảm thấy mình quá khờ dại khi nuôi sư tử trong nhà, nhưng bà hiểu lúc đó mình đang trong một giai đoạn quá phấn khích, quá choáng ngợp và mê say trước một dự án phim đầy thách thức.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 6

Ngay sau khi đưa sư tử Neil vào trong nhà, Hedren còn nhận nuôi thêm 3 sư tử con. Trước khi bắt đầu quay phim “Roar” hồi năm 1976, trong khu vực nuôi động vật để phục vụ cho dự án phim đã có rất nhiều động vật hoang dã.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 7

Lần trước tiên sư tử Neil cất tiếng gầm, những người láng giềng sống gần nhà của Hedren đã gọi điện tới và hỏi bà có nghe thấy tiếng sư tử gầm không, lúc này, họ vẫn chưa biết về những ý định của nữ diễn viên. Hedren liền nói dối rằng bà cũng nghe thấy nhưng lại tưởng là tiếng xe phân khối lớn.

Chuyện phim “Roar” theo chân một nhà động vật học sống ở Châu Phi, ông bỗng phải đón những người nhà vốn lâu ngày không gặp tới thăm mình một cách đường đột, khi tới nơi, người thân được thấy ngôi nhà của gia đình đã trở nên nơi ở của những đàn sư tử.

hẳn nhiên việc quay phim không đơn giản bởi những loài động vật hoang dại nhiều khi cũng gây lộn với nhau, chúng cũng không chịu tuân lệnh để diễn xuất theo đúng yêu cầu. Có những cảnh tưởng đơn giản nhưng phải quay đi quay lại tới hàng tuần liền.

Hoạt động quay phim diễn ra rất chậm chạp. Họ phải day trở với vấn đề tài chính cho đoàn phim và việc coi sóc những loài động vật hoang dại cũng khá tốn kém.

Thực tế, quãng thời gian quá mải mê với dự án phim này đã khiến tình cảm mẹ con giữa bà Hedren và con gái trở thành bớt khắn khít.

Hai năm sau, Melanie rời khỏi nhà của mẹ để chung sống với nam diễn viên Don Johnson - người bạn trai hơn cô 8 tuổi (con gái của họ chính là nữ diễn viên Dakota Johnson). Sự việc đó đã từng khiến bà Hedren suy nghĩ và buồn bã một thời kì dài.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 8

Gia đình Hedren đã ham thích tìm hiểu những nếp của sư tử Neil.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 9

Con gái của Tippi Hedren - Melanie Griffith (khi ấy 13 tuổi) - cho sư tử Neil ngủ cùng giường với mình. Về sau, khi xem lại những bức ảnh này, Hedren mới “rùng mình nhận ra mình đã dốt tới mức nào”. Khi tham gia phim “Roar”, Melanie đã bị một con sư tử trên phim trường tấn công và phải sang những điều trị kéo dài ở vùng mặt.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 10

Sư tử Neil và Melanie Griffith ở bên bể bơi của gia đình.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 11

Chồng của nữ diễn viên Tippi Hedren thời bấy giờ - Noel Marshall, ông đã tham gia viết kịch bản, đạo diễn và diễn xuất trong bộ phim “Roar”. Cả Tippi Hedren, con gái riêng Melanie Griffith của bà, và 3 người con trai riêng của ông Noel cũng cùng dự diễn xuất trong phim.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 12

Người giúp việc trong gia đình bước qua sư tử như thể đó chẳng phải điều gì ghê gớm.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 13

Neil không bao giờ tiến công các thành viên trong gia đình Hedren nhưng những loài động vật hoang dã khác trên phim trường “Roar” thì có. Bản thân Hedren đã từng bị thương ở chân và đầu: “Tôi không có từ nào để bộc lộ âm thanh vang vọng trong đầu tôi khi răng của một con hổ cắm vào đầu tôi, sự việc đó ám ảnh tôi một thời gian dài”.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 14

Cậu bé Jerry Marshall, con trai út của Noel Marshall chơi đùa với sư tử Neil.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 15

Nữ diễn viên Hedren chia sẻ rằng sư tử Neil là nguồn cảm hứng trong cả cuộc đời bà mỗi khi nhớ về nó. Cho tới tận bây chừ, bà vẫn đang coi sóc những loài động vật hoang dã từng dự dự án phim “Roar” tại một khu bảo tồn.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 16
Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh” - 17

Hoạt động quay phim vốn được dự định diễn ra trong 9 tháng nhưng sau đó đã phải kéo dài trong 6 năm. Nguyên nhân là bởi những vấn đề tài chính, thành viên đoàn phim bị thương và một số sự cố khác. Trong quá trình quay phim, có 3 con sư tử bị cảnh sát bắn chết do tình thế bức, sau khi 28 con sư tử bỏ trốn khỏi khu chăm nuôi động vật phục vụ quay phim, gây nên một tình huống hỗn loạn.

Người bị thương nặng nhất trong đoàn phim là quay phim Jan de Bont khi ông từng phải khâu tới... 220 mũi vì bị sư tử tiến công vào vùng đầu và cổ.

Chứng kiến những vụ tấn công, nhiều thành viên trong đoàn phim xin thôi hợp tác, có nhiều thời khắc, các thành viên đoàn phim xin rút lui đồng loạt. Bộ phim đòi hỏi kinh phí đầu tư 17 triệu USD nhưng khi ra rạp thì chỉ thu về khoảng 2 triệu USD. Tippi Hedren và Noel Marshall ly hôn ngay sau khi phim ra rạp.

Sửng sốt trước “bộ phim nguy hiểm nhất trong lịch sử điện ảnh”
Tippi Hedren, Melanie Griffith, Don & Dakota Johnson - ba thế hệ diễn viên trong một gia đình

Bích Ngọc

Theo Look/Guardian

Covid-19 châm ngòi cho 'cái chết' đau đớn của các department store lớn nhất nước Mỹ, sau 1 thập kỷ nỗ lực chống chọi với những cú sốc

Các cửa hàng department store (cửa hàng bán buôn cao cấp) từng là những địa điểm mua sắm tấp nập trong những trọng tâm thương nghiệp và Phố Chính trên khắp nước Mỹ. Trong thập kỷ vừa qua, họ phải chịu đựng những đòn giáng mạnh, khi Macy’s đang phải đóng một số cửa hàng và sa thải viên chức, Barneys New York thì đệ đơn phá sản hồi năm ngoái.

Covid-19 châm ngòi cho cái chết đau đớn của các department store lớn nhất nước Mỹ, sau 1 thập kỷ nỗ lực chống chọi với những cú sốc - Ảnh 1.

Tuy nhiên, không điều gì có thể so sánh bằng cú sốc mà ngành này phải hứng chịu do đại dịch Covid-19. Doanh số bán áo xống và phụ kiện của các department store giảm 1 nửa trong tháng 3 và có thể còn đối diện với một thiên hướng có thể còn bạc hơn tháng 4. Toàn bộ đội ngũ điều hành của Lord & Taylor đã rời công ty trong tháng này, Nordstrom hủy 1 loạt đơn đặt hàng và ngừng trả tiền cho các nhà cung cấp. Trong khi đó, Neiman Marcus, chuỗi department store hào nhoáng nhất nước Mỹ dự kiến sẽ tuyên bố phá sản trong những ngày tới.

Theo Mark A. Cohen, giám đốc nghiên cứu ngành bán lẻ tại Trường kinh dinh thuộc Đại học Columbia, các cửa hàng này vốn đã chịu sự sụp đổ từ từ trong thời rất dài và đích thực không thể vượt qua thời gian này.

Covid-19 châm ngòi cho cái chết đau đớn của các department store lớn nhất nước Mỹ, sau 1 thập kỷ nỗ lực chống chọi với những cú sốc - Ảnh 2.

Cửa hàng Neiman Marcus tại Hudson Yards (Manhattan).

Ở thời điểm các nhà bán sỉ thường đặt hàng cho các mùa mua sắm quan yếu trong năm, thì những công ty này lại sa thải hàng chục nghìn viên chức tại cửa hàng, ban điều hành, lo lắng trữ tiền mặt và lên kế hoạch sống sót qua khủng hoảng. "Bóng ma" của tình trạng vỡ nợ hàng loạt đang được trao đổi sôi nổi. Dù có xảy ra hay không, thì sự biến động mà đại dịch gây ra sẽ đổi thay vĩnh viễn bức tranh của ngành bán lẻ và mối quan hệ của các thương hiệu với những cửa hàng đối tác.

Theo mỏng tháng 1 của công ty nghiên cứu bất động sản Green Street Advisors, chuỗi cửa hàng department store chiếm khoảng 30% tổng diện tích trọng điểm thương nghiệp tại Mỹ, 10% trong đó là Sears và J.C. Penney. Ngay cả trước đại dịch, công ty này dự định sẽ có khoảng 1 nửa cửa hàng tại các trọng điểm thương nghiệp đóng cửa vào 5 năm tới.

Dù đã nuốm phát triển chiến lược bán hàng trên các vận dụng thương mại điện tử, trang web, thì dịch bệnh đã cho thấy mức độ phụ thuộc của các department store vào doanh số bán hàng vật lý. thưa doanh số bán buôn tháng 3 của Bộ thương mại Mỹ công bố vào tuần trước cho thấy con số này là một "thảm hoạ". Tổng doanh số bán sỉ trong tháng này dự kiến còn tệ hơn, do các cửa hàng hầu hết đều đóng cửa trong tháng 3.

Theo đó, các nhà bán buôn đã bắt đầu thực hiện những biện pháp có phần cực đoan để sống sót. Le Tote – công ty đã mua lại Lord & Taylor, cho biết hôm 2/4 rằng họ sẽ sa thải tức khắc toàn bộ đội ngũ điều hành, gồm cả giám đốc điều hành. Hơn nữa, họ cũng ngừng tính sổ tiền hàng đối với các nhà cung cấp trong ít nhất 90 ngày, bởi chịu sức ép rất lớn từ vị thế thanh khoản.

Covid-19 châm ngòi cho cái chết đau đớn của các department store lớn nhất nước Mỹ, sau 1 thập kỷ nỗ lực chống chọi với những cú sốc - Ảnh 3.

Cửa hàng mới của Nordstrom tại Manhattan.

Theo Reuters, Macy’s cũng gia hạn thời kì thanh toán hàng hóa và dịch vụ từ 60 ngày lên 120 ngày và thuê các viên chức ngân hàng từ Lazard để tham mưu về vấn đề tài chính. Jeff Gennette – tổng giám đốc của công ty, đang hủy bỏ thanh toán mọi khoản đền bù trong thời gian khủng hoảng. Công ty này còn bị loại khỏi S&P 500 vào tháng trước do mức định giá rớt thảm.

J.C. Penney cũng thuê nhân viên từ Lazard để tư vấn về chọn lựa tái cấu trúc và xác nhận rằng họ đã chẳng thể thanh toán khoản lãi vay hồi tuần trước. Tuy nhiên, không ai trong số các nhà bán lẻ này gặp khó khăn "trực diện" như Neiman Marcus, khi vừa gánh khoản nợ 4,8 tỷ USD và chi phí thuê mặt bằng đắt đỏ tại các khu mua sắm cao cấp nhất nước Mỹ.

Thậm chí ngay cả Nordstrom – một chuỗi cửa hàng được coi là có vị thế mạnh nhất, trong tháng này cũng cho biết họ có thể phải đối mặt với một cảnh huống khó khăn, khi các cửa hàng vật lý phải đóng cửa trong thời gian dài. Erik và Pete Nordstrem – tổng giám đốc và giám đốc thương hiệu, đều không nhận lương căn bản trong ít ra 6 tháng. Chuỗi cửa hàng này đã gây ra cú sốc đối với những nhà cung cấp, khi gửi một loạt email hủy đơn hàng trong những ngày gần đây.

Ở bít tất các chuỗi cửa hàng, mức giá đối với một số hàng hóa được bán qua các trang thương mại điện tử đã giảm 40%. Hơn nữa, lượng đơn hàng trước mùa thu bị hủy đã tăng lên. Một số thương hiệu cho biết các lô hàng thậm chí còn bị từ chối khi vừa giao đến kho. Các công ty bán sỉ cũng gia hạn thời kì chi trả cho các bên cung cấp, khiến họ buộc phải thương thuyết với các nhà sản xuất, công ty marketing và chủ đất.

Hơn nữa, lưu lượng tiền mặt của các department store cũng sụt giảm mạnh. Trong một chú giải công bố hôm 13/4, các nhà phân tách của Cowen ước lượng lượng thanh khoản của Macy’s chỉ đủ để trụ vững trong 4 tháng, Kohl’s là 6 tháng và 7 tháng đối với J.C. Penny. Trong khi đó, nhóm chuyên gia cho rằng Nordstrome có thể sống sót trong 12 tháng khi các cửa hàng đóng cửa.

Theo một vắng của S&P Global Market Intelligence trong tháng này, các department store có nhiều khả năng vỡ nợ hơn bất kỳ ngành nào khác thuộc lĩnh vực tiêu dùng vào năm tới. Họ dự định khả năng nhóm này vỡ nợ có xác suất 42%.

Tham khảo New York Times